02687nam a2200253 a 450000500170000000800200001702200140003704000060005104100080005710000260006524502430009124500260033426000120036026000090037252017570038165000630213870000260220171000520222777300520227977300090233177300150234077300260235577300520238120260119070850.02022-12-10 15:43:12 a1859-3879 a1 avie aLê, Hồng Hạnh aBảo đảm tính đồng bộ, tính thống nhất của pháp luật hướng tới hiệu quả thực hiện quyền tiếp cận đất của các cộng đồng dân tộc thiểu số./ cLê, Hồng Hạnh aTp. HCM c2022 aPhát triển bền vững không để ai rơi lại phía sau là tuyên ngôn phát triển của nhân loại trong thế kỷ XXI. Việt Nam cũng ký Tuyên bố De Janeiro 2012 về Môi trường và phát triển bền vững. Thực hiện nghĩa vụ theo Tuyên bố này, Việt Nam đã đặt ra 14 mục tiêu phát triển bền vững (Sustainable Development Goals, SDG) trong đó có nhiều mục tiêu liên quan đến phát triển các dân tộc thiểu số (DTTS). Trong số các giải pháp thực hiện các SDG, có nhiều giải pháp liên quan đến quyền sở hữu tài sản, quyền tiếp cận đất đai của DTTS ở Việt Nam. Nghị quyết số 88/2019/NQ-QH14 phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 đã xác định nhiệm vụ đồng thời là giải pháp chủ yếu chính là giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt của đồng bào DTTS. Một trong những nguyên nhân chính của trình trạng này chính là những bất cập trong pháp luật và thi hành pháp luật đất đai. Bài viết phân tích tính đồng bộ, thống nhất của pháp luật đất đai nhìn từ yêu cầu phát triển DTTS và trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm bảo đảm quyền tiếp cận đất đai của đồng bào DTTS. aLuật đất đai -- Quyền sử dụng đất aSố 03 (151), 2022 aTạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam dTạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam g2022 htr. 1 - 11 rSố 03 (151), 2022 tTạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam