Image from Google Jackets
Image from OpenLibrary

Ngôn ngữ học tri nhận: Ghi chép và suy nghĩ Trần Văn Cơ

By: Material type: TextLanguage: Vietnamese Publication details: Hà Nội; Khoa Học Xã Hội; 2007Description: 434tr; 14,5x20,5cmSubject(s): DDC classification:
  • 415
  • T772-C65
Online resources: Summary: Bất cứ ngành khoa học nào cũng có hệ thống thuật ngữ chuyên biệt của nó, nhờ đó nó trình bày, miêu tả, thuyết giải đối tượng nghiên cứu, nội dung và phương pháp khoa học của ngành. NNHTN cũng vậy. Tuy tuổi đời của nó chỉ mới khoảng hơn ba mươi, song số thuật ngữ của nó đã đủ để có thể soạn một quyển từ điển chuyên ngành ngôn ngữ học tri nhận. Các nhà khoa học Nga đã làm việc đó (x. Kubriakova và những tác giả khác 1997). Cần nói thêm rằng bên cạnh những thuật ngữ đích thực là chuyên ngành NNHTN như tri nhận (cognition), ý niệm (concept), điển dạng (prototype) v.v., còn có rất nhiều những thuật ngữ vay mượn của những khoa học khác, nhưng được hiểu theo quan điểm của NNHTN, chẳng hạn như tri thức, tri giác, ý thức, thông tin, phạm trù, ẩn dụ v.v. Điều này không có gì lạ và được giải thích bằng tính liên thông giữa các khoa học. Có một thực tế là trong một số tài liệu về NNHTN bằng tiếng Việt, các thuật ngữ không được các tác giả giải thích, mà được dùng một cách đương nhiên, tuy có chua thêm từ tiếng Anh hoặc tiếng Nga, tiếng Pháp v.v. bên cạnh (trong dấu ngoặc đơn) làm như những từ tiếng nước ngoài ấy chính là sự giải thích vậy. Đó là lối dùng cái không biết để giải thích cái chưa biết. Những từ tiếng nước ngoài chua bên cạnh thuật ngữ Việt chỉ có gía trị làm chuẩn để người đọc đối chiếu thuật ngữ Việt với nguyên bản tiếng nước ngoài (nếu người đọc biết tiếng nước ngoài tương ứng). Trong phần này, chúng tôi chỉ giới thiệu một số thuật ngữ tối cần thiết mà người ta thường gọi là những từ chìa khoá giúp mở cánh cửa đi vào khoa học tri nhận.
Tags from this library: No tags from this library for this title. Log in to add tags.
Star ratings
    Average rating: 0.0 (0 votes)
Holdings
Cover image Item type Current library Home library Collection Shelving location Call number Materials specified Vol info URL Copy number Status Notes Date due Barcode Item holds Item hold queue priority Course reserves
Sách Thư Viện Cơ Đốc Available TVCD-1635

Bất cứ ngành khoa học nào cũng có hệ thống thuật ngữ chuyên biệt của nó, nhờ đó nó trình bày, miêu tả, thuyết giải đối tượng nghiên cứu, nội dung và phương pháp khoa học của ngành. NNHTN cũng vậy. Tuy tuổi đời của nó chỉ mới khoảng hơn ba mươi, song số thuật ngữ của nó đã đủ để có thể soạn một quyển từ điển chuyên ngành ngôn ngữ học tri nhận. Các nhà khoa học Nga đã làm việc đó (x. Kubriakova và những tác giả khác 1997). Cần nói thêm rằng bên cạnh những thuật ngữ đích thực là chuyên ngành NNHTN như tri nhận (cognition), ý niệm (concept), điển dạng (prototype) v.v., còn có rất nhiều những thuật ngữ vay mượn của những khoa học khác, nhưng được hiểu theo quan điểm của NNHTN, chẳng hạn như tri thức, tri giác, ý thức, thông tin, phạm trù, ẩn dụ v.v. Điều này không có gì lạ và được giải thích bằng tính liên thông giữa các khoa học. Có một thực tế là trong một số tài liệu về NNHTN bằng tiếng Việt, các thuật ngữ không được các tác giả giải thích, mà được dùng một cách đương nhiên, tuy có chua thêm từ tiếng Anh hoặc tiếng Nga, tiếng Pháp v.v. bên cạnh (trong dấu ngoặc đơn) làm như những từ tiếng nước ngoài ấy chính là sự giải thích vậy. Đó là lối dùng cái không biết để giải thích cái chưa biết. Những từ tiếng nước ngoài chua bên cạnh thuật ngữ Việt chỉ có gía trị làm chuẩn để người đọc đối chiếu thuật ngữ Việt với nguyên bản tiếng nước ngoài (nếu người đọc biết tiếng nước ngoài tương ứng). Trong phần này, chúng tôi chỉ giới thiệu một số thuật ngữ tối cần thiết mà người ta thường gọi là những từ chìa khoá giúp mở cánh cửa đi vào khoa học tri nhận.

There are no comments on this title.

to post a comment.
Share